Tìm kiếm tin tức
CHƯƠNG II: TUỔI NHỎ LÀM VIỆC NHỎ, THI ĐUA HỌC VÀ HÀNH THAM GIA KHÁNG CHIẾN GIÀNH THẮNG LỢI VẺ VANG (1946 - 1954)
Ngày cập nhật 26/10/2007

Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Bác Hồ kính yêu, thiếu niên, nhi đồng trong cả nước theo lời dạy của Bác Hồ "Tuổi nhỏ làm việc nhỏ" đã góp phần tích cực vào sự nghiệp bảo vệ, củng cố Nhà nước dân chủ nhân dân, xây dựng chế độ mới và tích cực chuẩn bị cho cuộc kháng chiến lâu dài, gian khổ của dân tộc từ sau cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Hệ thống tổ chức Đoàn, Đội phát triển rộng khắp từ Bắc đến Nam, ngay cả trong các vùng bị thực dân Pháp tạm chiếm đóng ở Nam Bộ và Nam Trung Bộ.

Những ngày cuối năm 1946, tình hình trở nên hết sức khẩn trương trước dã tâm xâm lược nước ta lần nữa của thực dân Pháp. Hội nghị Ban Thường vụ Trung ương Đảng được triệu tập khẩn cấp trong hai ngày 18 và 19-12-1946 đi tới quyết định phát động toàn dân đứng lên cầm vũ khí chống quân xâm lược, bảo vệ nền độc lập, tự do vừa mới giành được.

Đêm 19-12-1946, cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ. Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến. Người dạy: ..."Chúng ta muốn hoà bình, chúng ta phải nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp nước ta lần nữa!
Không! Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ.
Hỡi đồng bào!... Hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp để cứu Tổ quốc!"...

Tại Thủ đô Hà Nội cũng như ở các thành phố, thị xã như Hải Phòng, Hải Dương, Vinh, Huế, Đà Nẵng... tiếng súng giết giặc của quân dân ta từ già đến trẻ rền vang. Với lực lượng lớn, vũ khí hiện đại, giặc Pháp tưởng như sẽ dễ dàng đè bẹp quân dân Hà Nội. Nhưng điều ngược lại là chúng càng đánh càng chịu những thất bại nặng nề. Tuổi trẻ và nhân dân Thủ đô đã nêu cao tinh thần "Cảm tử cho Tổ quốc quyết sinh" và thề "Sống chết với Thủ đô". Tại Bắc Bộ Phủ, nơi làm việc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, một đại đội vệ quốc quân và 20 thanh niên tự vệ đã nêu quyết tâm chiến đấu đến cùng: "Chúng tôi còn, Bắc Bộ Phủ còn". Chiều ngày 20-12-1946, sau bao lần tấn công thất bại, giặc Pháp huy động 300 lính và 18 xe tăng mở trận đánh lớn vào Bắc Bộ Phủ. Các chiến sĩ ta chiến đấu hết sức ngoan cường, đẩy lùi nhiều đợt xung phong của giặc, tiêu diệt tại chỗ hơn 150 tên, bắn cháy 4 xe tăng. Theo lệnh cấp trên, chính trị viên trẻ tuổi Lê Gia Định cho bộ đội và thanh niên tự vệ rút quân để bảo toàn lực lượng chuẩn bị chiến đấu lâu dài. Lê Gia Định tình nguyện ở lại chặn địch. Anh đã dùng bom tiêu diệt xe tăng địch và hy sinh anh dũng. Tổ quốc ghi công truy tặng anh danh hiệu vẻ vang: "Cảm tử quân số 1" của Thủ đô.

Cùng với Vệ quốc quân và thanh niên tự vệ, hàng trăm thiếu niên anh dũng khắp các phố phường Hà Nội đã tham gia làm liên lạc viên, trinh sát viên cho bộ đội và dân quân, tự vệ. Nhiều Đội thiếu nhi có tổ chức chặt chẽ như Đội thiếu nhi Mai Hắc Đế, thiếu nhi Hoàng Cường, Đội thiếu nhi tình báo Bát Sắt... được thành lập và hoạt động mạnh trong lòng Thủ đô. Các thiếu niên gan dạ này được bộ đội đặt cho cái tên rất trìu mến, đó là "Vệ út". Vệ út có mặt khắp nơi, len lỏi giữa các đường phố ngổn ngang hào luỹ, chướng ngại vật dưới làn đạn của quân thù. Trong số các Vệ út của Hà Nội năm ấy, nổi lên nhiều tấm gương sáng như út Lai, liên lạc viên 12 tuổi của Trung đoàn Thủ đô. Lai thuộc lòng các ngõ ngách của mặt trận Liên khu I, nhiều lần leo ống máng, vượt mái nhà, luồn qua giao thông hào... dẫn đường cho bộ đội, truyền các mệnh lệnh của cấp trên cho các đơn vị thuộc trung đoàn. Có lần, trong một trận giáp chiến với giặc, bộ đội ta hết đạn nhưng ai cũng quyết tâm giữ vững trận địa, út Lai lao nhanh trước họng súng của kẻ thù liên lạc được với đơn vị bạn đến chi viện làm cho quân địch hoảng hốt tháo chạy. út Lai được cả đơn vị ngợi ca về tinh thần dũng cảm và trí thông minh.

Xuân Đinh Hợi (1947), đúng lúc cuộc chiến đấu giữa lòng Hà Nội đang diễn ra quyết liệt. Trên các chiến hào, hàng chục nghìn chiến sĩ, tự vệ, dân quân Thủ đô sạm đen khói súng sung sướng, xúc động đến nghẹn ngào đọc thư thăm hỏi, động viên của Bác Hồ. Bác viết: "Các em là đội cảm tử. Các em cảm tử để cho Tổ quốc quyết sinh. Các em là đại biểu cái tinh thần tự tôn, tự lập của dân tộc ta mấy nghìn năm để lại, cái tinh thần quật cường đó đã kinh qua Hai Bà Trưng, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung, Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám truyền lại cho các em. Nay các em gan góc tiếp tục cái tinh thần bất diệt đó để truyền lại nòi giống Việt Nam muôn đời về sau... Các em hăng hái tiến lên, lòng Già Hồ, lòng Chính phủ và lòng toàn thể đồng bào luôn luôn ở bên cạnh các em".

Sau gần hai tháng "Sống chết với Thủ đô" quân dân ta, trong đó có không ít các "Vệ út" đã góp phần đắc lực tiêu diệt trên 2000 tên địch, phá hủy và thu được nhiều vũ khí, đánh bại kế hoạch đánh nhanh thắng nhanh của kẻ thù, bảo vệ thành công các cơ quan đầu não của Nhà nước cách mạng. Đêm 17-2-1947, thực hiện chỉ thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Bộ chỉ huy ta ra lệnh cho Trung đoàn Thủ đô rút khỏi thành phố do đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao nay đã đến lúc phải trở về hậu phương xây dựng lực lượng lớn mạnh hơn nữa. Các đại đội dân quân tự vệ trong đó có đại đội tự vệ Thăng Long cùng được trở về các căn cứ ở ngoại thành tiếp tục tác chiến theo kế hoạch mới.

Rạng sáng hôm sau, phát hiện ra hàng nghìn chiến sĩ cảm tử Thủ đô không cánh mà bay, địch cho nhiều đơn vị tỏa ra đuổi theo quân ta trong đó có một lực lượng khá mạnh tiến về phía bãi ven sông Hồng theo hướng Bắc mà địch phỏng đoán là đường rút thần tình của Trung đoàn Thủ đô. Các cánh quân này đã bị đội du kích Hồng Hà do Nguyễn Ngọc Nại chỉ huy gồm 15 chiến sĩ rất trẻ tuổi chặn đánh kịch liệt và hy sinh anh dũng đến người cuối cùng. Cuộc hành quân đuổi theo Trung đoàn Thủ đô của địch thất bại hoàn toàn với hàng chục tên giặc đền mạng.

Các đại đội tự vệ thành rút ra ngoài bố trí lực lượng tiếp tục đánh địch trên các tuyến Hà Nội - Văn Điển, Hà Nội - Sơn Tây... Đại đội tự vệ Thăng Long cũng thực hiện kế hoạch phân tán đánh du kích như các đại đội khác trên tuyến Hà Nội - Hà Đông. Dương Văn Nội là liên lạc viên tuy tuổi còn nhỏ nhưng đã từng tham gia nhiều trận đánh trong lòng Hà Nội nay cùng theo đơn vị phân tán đóng quân ở làng Giá. Quê Nội ở Duy Tiên (Hà Nam), Nội gia nhập Đội tự vệ Thăng Long ngay từ đầu. Cả đại đội ai cũng yêu mến Nội vì lòng dũng cảm, ý thức tổ chức kỷ luật của em.

Sáng hôm ấy, lính địch có xe tăng yểm trợ đột ngột càn vào làng. Cả tiểu đội của Nội theo lệnh anh tiểu đội trưởng ra bố trí ven đê chờ địch, lựu đạn chất đầy trong các rọ tre để bên cạnh... ngoài súng và lựu đạn còn có cả dao, kiếm, mã tấu.

Tham gia trận chống càn này, cả đại đội tự vệ Thăng Long rải quân suốt dọc đê sông Đáy từ làng Giá ra đến Phùng. Dương Văn Nội cùng anh Lộc và bạn Đức trong cùng một tổ. Anh Lộc là chỉ huy có ba quả lựu đạn và cây súng tuyn; Đức có hai lựu đạn, 1 dao cán dài; Nội chỉ có cây súng trường. Đang ngồi dưới hào, không hiểu sốt ruột thế nào, anh Lộc nhổm người lên nhìn quanh quất, bỗng anh tháo khẩu tuyn đang quàng và hô lớn:

- Chúng nó kia rồi, chuẩn bị... đánh!

Nội thấy không phải một mà đến hai toán giặc đi vàng cả bờ ao bên kia. Nội kê súng lên bờ hào, Đức lăm lăm quả lựu đạn. Không khí thật căng thẳng. Rồi thì một hàng ba tên Lê dương mũi lõ đã ở trước đầu ruồi cây súng. Nội mím chặt môi, nheo mắt và nín thở.

Đoàng! Nòng súng của Nội rung lên giận dữ. Anh Lộc quay phắt lại và reo lên:

- Hay quá, ít ra là 2 thằng, xuyên táo rồi Nội ạ.

Toán lính giặc chạy tóe ra nhưng tên chỉ huy vừa bò vừa hò hét tập họp bọn chúng lại. Lúc này cả bên trái, bên phải và trước mắt đều có địch. Tình thế bắt buộc ta phải rút. Tiểu đội trưởng Lộc lại hô lớn, giọng anh đanh lại:


- Hai em chạy vào làng đi, trong làng có du kích của ta.
Nội và Đức chuẩn bị chiến đấu, nhưng anh Lộc hét lên:

- Không được, chạy vào làng đi, chỉ mình anh ở lại chặn chúng nó thôi.

Nội và Đức chạy ào vô làng giữa lúc loạt súng tuyn của anh Lộc vang lên cùng với hàng tràng liên thanh của địch nhả chéo lại. Bỗng chân Nội như bước hẫng, đau nhói ở ngực và ngã xuống...

Dương Văn Nội là một trong những liệt sĩ thiếu niên đầu tiên được Chính phủ ta tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng Hai và sau này được tặng danh hiệu vẻ vang: Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân (1997).

Cùng với Hà Nội, thiếu niên các thành phố, thị xã trong cả nước đã hăng hái tham gia kháng chiến. Tại Nam Định, hơn 800 quân Pháp bị vây chặt trong thành phố 60 ngày đêm. Hàng chục trận tấn công tiêu diệt giặc của bộ đội, dân quân, tự vệ có sự tham gia của các Đội thiếu niên cảm tử, nhất là các trận phục kích táo bạo gần nơi đóng quân của giặc làm cho chúng rất hoang mang. Các đội viên thiếu niên cảm tử giả làm bé đánh giày, bé bán bánh nhưng mang theo lựu đạn diệt địch ngay trên đường phố và các vùng phụ cận. Hơn 400 tên giặc đã đền mạng nói lên tinh thần chiến đấu kiên cường, liên tục của quân dân ta ở Nam Định. Sau Đại hội Đoàn toàn tỉnh lần thứ nhất (10-1947), Đội thiếu niên tiền phong của tỉnh được thành lập để thu hút các em vào việc học tập, rèn luyện và tham gia kháng chiến. Trong những ngày cùng cha anh đứng lên cứu nước, ở Nam Định đã xuất hiện tấm gương Phạm Đỗ Hải, 13 tuổi làm liên lạc cho Trung đoàn 34 Tất Thắng (Bộ đội địa phương). Trong khi đang làm nhiệm vụ thì Phạm Đỗ Hải chẳng may bị giặc bắt, Hải nhanh chóng huỷ hết tài liệu. Đặc biệt, Hải còn thăm dò thái độ phản chiến của 2 lính Phi trong quân đội thực dân rồi dẫn 2 người lính đó cùng trốn trại về hàng Chính phủ Việt Nam. Được tin này, Bác Hồ kính yêu đã gửi thư khen ngợi, biểu dương Phạm Đỗ Hải. Tại Huế, cuộc chiến đấu kéo dài hơn một tháng với những đợt tấn công táo bạo của quân ta. Hàng trăm đội viên thiếu niên đã tham gia làm liên lạc, làm trinh sát cho bộ đội và tự vệ chiến đấu; đặc biệt là giúp đồng bào tản cư ra khỏi thành phố để tránh bom đạn. Mỗi khu phố có một tổ thanh, thiếu niên làm nhiệm vụ giữ gìn trật tự, an ninh và tiếp tế cho bộ đội. Tại Đà Nẵng, 10.000 quân Pháp bị vây hãm liên tiếp 3 tháng trong thành phố và liên tiếp bị quân dân Quảng Nam kiên cường giết giặc cứu nước là các chiến sĩ trẻ tuổi Ngô Văn Minh, Trần Đức, Ngô Hiệp và đội quyết tử của thiếu ni&ecir